Hành trình băng qua bom đạn Trường Sơn của nữ giáo viên trẻ 60 năm về trước

Ở tuổi 85, bà Trần Thị Vinh, một cựu nhà giáo, vẫn vẹn nguyên ký ức về chuỗi ngày lội suối, cắt rừng dọc dãy Trường Sơn để hướng về chiến trường miền Nam vào năm 1965.

Hành trình băng qua bom đạn Trường Sơn của nữ giáo viên trẻ 60 năm về trước

Ký ức vượt ngàn dặm Trường Sơn đầy khói lửa của cô giáo trẻ hơn nửa thế kỷ trước

Dù đã bước sang tuổi 85, cựu giáo chức Trần Thị Vinh vẫn vẹn nguyên ký ức về hành trình băng rừng, lội suối dọc dãy Trường Sơn đầy hiểm nguy để chi viện cho tiền tuyến miền Nam vào năm 1965.

Xuất hiện tại sự kiện khai mạc trưng bày tài liệu lưu trữ cùng kỷ vật của các cán bộ đi B do Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ) thực hiện ở Hà Nội ngày 17/7, bà Trần Thị Vinh thanh lịch trong tà áo dài xanh, mái tóc đã bạc trắng như mây, ánh mắt tràn đầy cảm xúc khi xem lại những giấy tờ cá nhân thời chiến của bản thân.

Giữa hàng loạt hiện vật vô giá của những thế hệ cán bộ vượt gian khổ từ Bắc vào Nam, bà Vinh luôn trân trọng gìn giữ văn bản quyết định điều động đi B. Tờ giấy viết tay đề ngày 14/5/1965 do chính Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đặt bút ký. Đây không đơn thuần là một văn bản phân công nhiệm vụ, mà chính là cột mốc lịch sử mở đầu cho chặng đường đầy gian truân nhưng vô cùng tự hào của cuộc đời bà.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các vùng chiến lược được đặt theo mật danh. Vùng hậu phương phía Bắc ký hiệu là A, còn mặt trận phía bên kia vĩ tuyến 17 thuộc miền Nam gọi là B. Những nhân sự thuộc miền Bắc được tăng cường cho tiền tuyến miền Nam được gọi là lực lượng đi B. Họ bao gồm nhiều ngành nghề như y bác sĩ, thầy cô giáo, kỹ sư, giới văn nghệ sĩ, nhà báo, dưới quyền điều hành của Ủy ban Thống nhất Chính phủ.

Nữ nhà giáo sinh năm 1941 tại miền Nam Bộ. Người cha của bà có quê gốc ở Thuận Thành (Bắc Ninh), vốn là một trí thức được học tập dưới thời Pháp thuộc. Khi tiếp thu lý tưởng cách mạng, ông bước vào hoạt động bí mật và tới năm 1946 đã quyết định đưa toàn bộ gia đình ra Bắc. Thời điểm đó, cô bé Trần Thị Vinh mới lên 5 tuổi, được các chiến sĩ giao liên luân phiên cõng qua những chặng đường dài, trải qua suốt sáu tháng ròng rã mới đặt chân đến đất Bắc.

Nhiều năm trôi qua, khi nhận nhiệm vụ trở lại miền Nam, lời dặn dò của người mẹ đã khắc sâu vào tâm trí bà: "Lần trước con vượt Trường Sơn trên lưng người khác. Lần này con sẽ phải đi bằng chính đôi chân của mình. Con có đi nổi không?".

Nhà giáo Trần Thị Vinh. Ảnh: Giang Huy
Ảnh: Tham khảo trên vnexpress

Nhà giáo Trần Thị Vinh. Ảnh: Giang Huy

Khát vọng cống hiến của tuổi trẻ và những ngày rèn luyện nghiêm ngặt

Trước lúc nhận lệnh đi B, bà Vinh đang đảm nhận vai trò giáo viên dạy môn Toán - Lý tại Trường cấp 3 Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh), sau đó được điều chuyển về Đại học Sư phạm Hà Nội để nâng cao trình độ. Được học tập, rèn luyện cùng các giáo sư uy tín hàng đầu, con đường phía trước của nữ nhà giáo 24 tuổi lúc bấy giờ vô cùng tươi sáng. Dẫu vậy, đến tháng 5/1965, mọi kế hoạch đã thay đổi khi tổ chức ghi nhận năng lực cùng phẩm chất đạo đức của bà và quyết định cử bà lên đường đi B.

Hoàn cảnh gia đình lúc ấy rất đơn chiếc khi người cha đã khuất, anh trai đi học bên nước ngoài, ở quê nhà chỉ còn mẹ già và ba người em nhỏ đang tuổi lớn. Bản thân bà trước đó cũng mong muốn được xuất ngoại học tập nâng cao. Tuy nhiên, khi tổ chức hỏi về tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ mới, bà không hề đắn đo mà nhận lời ngay. Bà nhớ lại: "Lúc đó tôi chỉ là thanh niên không có gì ngoài sức trẻ. Gia đình tôi đã được Đảng, Nhà nước cưu mang, khi đất nước cần tôi không lùi bước".

Trước ngày xuất quân, cả đoàn phải trải qua các bài tập hành quân nghiêm ngặt như những chiến sĩ thực thụ. Cứ đêm xuống, họ lại xếp gạch đầy balô, quấn thêm các túi cát quanh bụng, mang dép cao su hành tiến liên tục hàng chục cây số. Sau mỗi đêm luyện tập, bàn chân ai nấy đều sưng tấy, đau nhức, phải dùng nước muối ấm để ngâm chân nhằm chuẩn bị cho buổi tập tiếp theo.

Thế nhưng, khi chính thức đặt chân lên dải Trường Sơn - tuyến đường huyết mạch chuyển dịch nhân lực, vật lực từ hậu phương miền Bắc chi viện cho mặt trận miền Nam, họ mới nhận ra những ngày rèn luyện trước đó mới chỉ là bước khởi đầu. Những con đèo dốc đứng liên tiếp, những chặng leo núi cao rồi lội suối sâu, nhiều vực thẳm sâu hun hút chỉ thấy mây ngàn bao phủ. Có những đêm tối, chiếc xe chở đoàn bị mất phương hướng giữa hệ thống đường chiến lược chằng chịt, đến khi trời sáng mới nhận ra đã quay về gần vị trí xuất phát ban đầu.

Từng thành viên phải tự mang vác nhu yếu phẩm, cứ đến mỗi trạm giao liên lại nhận thêm gạo, muối hoặc lương khô để tiếp tục hành trình xuyên rừng sâu. Càng dấn thân vào sâu, mọi nhu cầu sinh hoạt thường nhật càng phải cắt giảm đến mức tối đa.

Bộ hồ sơ đi B của nhà giáo Trần Thị Vinh được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3. Ảnh: Giang Huy
Ảnh: Tham khảo trên vnexpress

Bộ hồ sơ đi B của nhà giáo Trần Thị Vinh được trưng bày tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3. Ảnh: Giang Huy

Những mất mát và nghị lực phi thường giữa đại ngàn

Trong một lần dừng chân nghỉ ngơi giữa đại ngàn, bà Vinh một mình đi dạo vào vùng rừng vắng và tình cờ nhìn thấy một chiếc võng mắc cheo leo giữa hai thân cây lớn. Trên chiếc võng đó là một bộ hài cốt còn nguyên trang phục chiến sĩ, đôi tay vẫn ôm chặt khẩu súng AK đã hoen gỉ trước ngực. Không ai rõ người lính ấy đã nằm lại nơi này từ bao giờ. Bà thầm đoán có thể anh đã mắc bệnh sốt rét, sức lực cạn kiệt nên không thể đuổi kịp đơn vị, đành cố gắng lết vào góc rừng sâu này, tự mắc võng nằm xuống rồi mãi mãi ra đi.

Bà xúc động kể lại: "Lúc ấy tôi tự hỏi nếu một ngày mình kiệt sức và tụt lại phía sau, liệu mình có giống như chiến sĩ kia không?".

Vào tháng 5/1966, khi toàn đội đã tiến sát đến địa bàn Nam Bộ, những trận bom dữ dội bất ngờ dội xuống. Mọi người lúc ấy đang sinh hoạt bình thường thì tiếng động cơ máy bay gầm rú ập đến, ai nấy đều nhanh chóng lao thẳng xuống hầm ẩn nấp. Sau trận oanh tạc ác liệt đó, một đồng chí cán bộ đã ngã xuống, gửi lại người vợ cùng đứa con thơ dại ở quê nhà Hà Nội.

Đối với những cán bộ đi B như bà Vinh, hành trình lội suối băng rừng, đối mặt với hiểm nguy bom đạn, muỗi vắt ác nghiệt khiến cơ thể mệt mỏi rã rời. Song khi chứng kiến những chiến sĩ giao liên ăn không đủ no, ngủ không tròn giấc, vai luôn mang nặng khẩu súng AK để bảo vệ và dẫn đường cho từng đoàn người vượt dãy Trường Sơn, bà lại thấy sự gian khổ của mình vẫn chưa thấm thía vào đâu.

Trải qua thời gian dài đồng hành, bà cũng dần quen với phong cách chỉ đường đặc trưng của họ. Mỗi khi gặng hỏi quãng đường đến trạm kế tiếp, họ chỉ nở nụ cười hiền hậu rồi trả lời bằng vốn tiếng Kinh chưa thật thạo: "Khắc đi, khắc đến". Hoặc họ đưa ra cách tính: cứ đi cho đến khi chiếc khăn nhúng nước vắt khô rồi lại thấm ướt đến ba, bốn bận thì sẽ tới nơi. Ở đây không ai đo đường bằng số cây số, thời gian di chuyển được đo đếm bằng những lần dừng nghỉ bên suối để lấy nước.

Bộ hồ sơ đi B của nhiều cán bộ được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3. Ảnh: Giang Huy
Ảnh: Tham khảo trên vnexpress

Bộ hồ sơ đi B của nhiều cán bộ được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3. Ảnh: Giang Huy

Vượt qua bạo bệnh và cuộc gặp gỡ bất ngờ

Rồi điều đáng sợ nhất cũng bủa vây lấy bà. Một trận sốt rét ác tính dữ dội đã quật ngã người phụ nữ trẻ ngay giữa đại ngàn Trường Sơn, buộc bà phải ở lại trạm giao liên suốt gần nửa tháng trời. Nguồn thuốc men vô cùng thiếu thốn, nhiều lúc cơ thể suy kiệt đến mức không thể nhấc nổi bước chân. Có lần bà phải bò ra khu vệ sinh từ lúc giữa trưa rồi ngất lịm đi ở đó cho đến tận chiều muộn. Thời điểm tỉnh lại, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu bà không phải là cơn bệnh mà là nỗi khiếp sợ trước loài rắn độc hay bọ cạp rừng.

Trong quãng thời gian nằm dưỡng bệnh tại trạm giao liên này, bà có cơ hội gặp gỡ nhà văn Thép Mới (Hà Văn Lộc) cùng nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, hai người cũng đang phải dừng chân điều trị bệnh. Trông thấy cô gái trẻ chịu cảnh sốt rét hành hạ giữa rừng sâu, nhà văn Thép Mới vừa xót xa vừa trách yêu bằng câu nói "đàn bà con gái, ai bắt vào đây làm gì".

Khi sức khỏe tiến triển tốt hơn, bà lại tiếp tục hành trình cùng một đoàn hành quân khác. Ngay giữa chốn rừng sâu Trường Sơn, bà đã có một cuộc đoàn tụ vô cùng hy hữu. Một người lính trẻ tuổi trong đơn vị mới nhìn chăm chú vào bà rồi cất tiếng hỏi: "Có phải cô Vinh không?".

Tìm lại những mảnh ký ức xưa cũ, bà bất ngờ nhận ra Lê Quang Mưu, cậu học trò cũ ngày nào từ thời bà còn đi thực tập tại Hà Tĩnh. Người học sinh năm xưa giờ đây đã mang quân hàm thiếu úy, giữ chức vụ trợ lí chính trị viên tiểu đoàn. Anh đã nhanh chóng cho mắc võng, nấu cơm và cử người chăm sóc tận tình cho cô giáo cũ của mình như một vị khách quý.

Trở thành phóng viên chiến trường và tình yêu với bục giảng

Đến tháng 5/1966, sau nhiều tháng dài trèo đèo lội suối, cô giáo Trần Thị Vinh đã đặt chân đến căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại Tây Ninh. Ngay thời điểm đó, quân đội Mỹ tiến hành một chiến dịch càn quét quy mô lớn vào căn cứ cách mạng. Cô giáo trẻ ngày nào chính thức bước vào đời lính, trở thành một phóng viên của Báo Quân Giải phóng.

Khi đất nước trọn niềm vui thống nhất, thiếu úy Trần Thị Vinh chuyển ngành rời quân ngũ để quay lại với ước mơ bục giảng. Bà về nhận công tác tại Sở Giáo dục TP HCM, rồi lần lượt giữ các chức vụ phó hiệu trưởng, hiệu trưởng tại nhiều ngôi trường phổ thông khác nhau. Dẫu có nhiều cơ hội để chuyển dịch sang các vị trí công việc khác, bà vẫn vẹn nguyên tình cảm và lựa chọn gắn bó trọn vẹn với nghề giáo.

Giờ đây, ở tuổi 85, bà Vinh vẫn nâng niu lưu giữ tờ quyết định điều động viết tay năm xưa cùng tấm giấy thông hành nhỏ nhắn đã đồng hành cùng bà qua bao gian khổ Trường Sơn. Về sau, bà đã quyết định hiến tặng cho Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3 một số giấy tờ cá nhân thời kỳ ở miền Nam, giúp cơ quan chức năng có thêm tư liệu để bảo quản và nghiên cứu một cách toàn diện về những kỷ vật lịch sử này.

Cảm ơn quý độc giả đã dành thời gian theo dõi bài viết đầy xúc động này. Xin mời quý vị tiếp tục khám phá thêm những câu chuyện lịch sử và những bài viết liên quan vô cùng hấp dẫn ngay phía dưới.

Ý kiến bạn đọc (0)

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nghĩ của bạn!