Định hướng mới cho giáo dục: Sự dịch chuyển mang tính chiến lược từ tư duy "quản lý" sang "quản trị phát triển"
Sự chuyển đổi bản chất trong quản hành giáo dục không chỉ thay đổi ở thuật ngữ bên ngoài mà nhắm thẳng vào cái đích cuối cùng là chất lượng và hiệu quả phát triển con người.
Trong khuôn khổ chương trình làm việc xoay quanh công tác chuẩn bị trước thềm năm học mới 2026-2027 và việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị (ban hành ngày 22/8/2025) định hướng đột phá phát triển ngành giáo dục, đào tạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra yêu cầu mang tính then chốt: Chuyển dịch mạnh mẽ từ lối tư duy "quản lý giáo dục" sang phương thức "quản trị phát triển giáo dục".
Đánh giá về chỉ đạo này, giới chuyên gia nhận định đây là bước ngoặt chiến lược, đặt nền móng vững chắc cho công cuộc tái thiết toàn diện nền giáo dục nước nhà trong thời kỳ mới. Trọng tâm của hệ thống giờ đây sẽ xoay quanh yếu tố con người và chất lượng phát triển bền vững.

Vào trung tuần tháng 6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì buổi làm việc cùng ngành giáo dục và đào tạo nhằm đánh giá công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 và thảo luận kết quả thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về các giải pháp mang tính đột phá cho ngành (Ảnh: TTXVN).
Xóa bỏ rào cản hành chính cũ để thiết lập quyền tự chủ thực chất
Phân tích sâu hơn về yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đại diện Hiệp hội Các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam - Phó Chủ tịch Lê Viết Khuyến nhận định đây là mệnh lệnh cấp thiết phát sinh từ đòi hỏi cải cách thực tiễn của giáo dục Việt Nam hiện nay.
Ông chỉ rõ, phương thức vận hành hệ thống giáo dục, đặc biệt tại khối đại học và dạy nghề nhiều năm qua vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư duy cũ. Chức năng quản lý nhà nước hiện bị phân mảnh ở nhiều bộ ngành, trong khi quyền hạn can thiệp trực tiếp vào các trường lại dồn về cơ quan trung ương, làm triệt tiêu tính năng động, sáng tạo của chính quyền địa phương.
"Hệ lụy của mô hình này là đẩy hệ thống giáo dục rơi vào tình trạng manh mún, thiếu liên kết và suy giảm hiệu quả hoạt động, không thể cộng hưởng để tạo ra sức mạnh chung", vị chuyên gia phân tích.
Một điểm nghẽn lớn khác cũng được chỉ ra là công tác hoạch định chính sách phát triển nguồn lực con người còn mang nặng tính cảm tính, thiếu nền tảng khoa học lẫn độ chuyên nghiệp cần thiết. Một khi bài toán nhân lực chưa có lời giải rõ ràng, việc xây dựng một chiến lược giáo dục tương thích là điều bất khả thi.

Môi trường học tập năng động của thế hệ học sinh tại TPHCM (Ảnh: Huyên Nguyễn).
Nhằm hiện thực hóa tinh thần chuyển đổi căn bản này, giải pháp được đưa ra là phải tái cấu trúc phương pháp quy hoạch giáo dục. Việt Nam không nên áp dụng rập khuôn các mô hình từ nước ngoài mà cần biết dung hòa linh hoạt giữa đặc thù thực tế trong nước với tinh hoa quốc tế.
Yêu cầu cấp bách lúc này là thực hiện cải tổ triệt để hệ thống quản trị đại học. Cần dẹp bỏ tư duy cục bộ, khép kín để tăng cường sự kết nối giữa các đơn vị đào tạo; đưa đầu mối quản lý nhà nước về một mối thống nhất theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 19. Đồng thời, ngành giáo dục cần kiên quyết loại bỏ cơ chế "xin - cho" hay vai trò của "bộ chủ quản", từ đó trao quyền tự quyết thực tế cho các cơ sở đào tạo đi kèm trách nhiệm giải trình minh bạch thông qua vai trò của hội đồng trường.
Bước đi tất yếu của nền giáo dục hiện đại toàn cầu
Đứng dưới góc độ một nhà tư vấn quản trị học đường, Giám đốc Viện đào tạo Qibi Academy Nguyễn Mai Duyên nhận định, chỉ đạo từ người đứng đầu Đảng và Nhà nước không chỉ mở ra con đường mới cho ngành giáo dục mà còn phản ánh sự đổi thay mang tính vĩ mô trong tư duy quản lý đất nước.
Bà chỉ ra rằng lâu nay, các cuộc tranh luận về cải cách thường chỉ xoay quanh những yếu tố bề nổi như đổi mới chương trình, biên soạn sách giáo khoa, quy chế thi cử hay vấn đề tự chủ. Dù vậy, lịch sử cải cách giáo dục trên thế giới chứng minh rằng các thay đổi mang tính bền vững và thực chất phải xuất phát từ gốc rễ - đó là tư duy quản trị.

Mọi quyết sách, chủ trương giáo dục đều cần lấy người học làm điểm xuất phát và đích đến cuối cùng (Ảnh minh hoạ: Nguyễn Vy).
"Quyết tâm thay đổi từ tư duy 'quản lý' sang 'quản trị phát triển' thực chất là một cuộc cách mạng về mặt triết lý. Nó định vị giáo dục trở thành động lực cốt lõi trong chiến lược vươn mình của quốc gia giữa kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo và nền kinh tế dựa trên tri thức", bà chia sẻ.
Sự chuyển dịch này hoàn toàn không đồng nghĩa với việc buông lỏng vai trò của cơ quan quản lý vĩ mô. Ngược lại, vai trò của Nhà nước lúc này là tập trung thiết lập hành lang pháp lý, định hình các tiêu chuẩn chất lượng, giám sát hệ thống và bảo đảm sự bình đẳng. Thay vì trực tiếp can thiệp vào chuyên môn của từng trường, cơ quan quản lý sẽ tạo không gian tối đa để các đơn vị tự chủ và sáng tạo.
Phương thức tiếp cận này tiệm cận với xu thế quản trị hành chính công hiện đại dựa trên kết quả đầu ra. Khi đó, sự thành bại của một chính sách không được cân đo bằng số lượng hoạt động bề nổi mà dựa trên những chuyển biến tích cực, thực chất từ phía những đối tượng thụ hưởng.
Sự tiến bộ của người học chính là thước đo giá trị cao nhất
Phương thức quản lý giáo dục áp đặt trước đây từng hoàn thành tốt sứ mệnh lịch sử trong thời kỳ đất nước gặp nhiều khó khăn, giúp thống nhất chương trình đào tạo, chuẩn hóa cán bộ, nhân rộng cơ sở vật chất và hoàn thành mục tiêu phổ cập chữ cho người dân.
Thế nhưng, trước làn sóng vũ bão của công nghệ và sự trỗi dậy của AI, giáo dục không thể mãi đi theo lối mòn truyền thụ kiến thức một chiều hay ép buộc học sinh tuân thủ các thủ tục hành chính xơ cứng. Ưu tiên hàng đầu hiện nay là phải bồi đắp cho học sinh khả năng tự học trọn đời, tư duy độc lập, óc sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm cùng khả năng thích ứng linh hoạt trước một thế giới không ngừng biến chuyển.
Sự khác biệt cốt lõi giữa hai khái niệm "quản lý giáo dục" và "quản trị phát triển giáo dục" được thể hiện rõ nét qua mục tiêu tối hậu của mỗi phương thức.
"Trong khi quản lý giáo dục luôn xoáy sâu vào câu hỏi: Hệ thống đã chạy đúng quy trình và luật lệ chưa?, thì quản trị phát triển giáo dục lại hướng về câu hỏi: Hệ thống này đã giúp học sinh tiến bộ và phát triển tối đa năng lực chưa?. Một bên đề cao tính kỷ luật, tuân thủ; bên còn lại tập trung vào việc kiến tạo giá trị thực tế. Quản lý chú trọng đến các bước thực hiện, còn quản trị hướng về kết quả và tầm ảnh hưởng sâu rộng", bà Nguyễn Mai Duyên phân tích cụ thể.
Sự thay đổi về thước đo đánh giá đòi hỏi toàn bộ bộ máy phải chuyển mình đồng bộ. Bộ Giáo dục cần chuyển vai trò từ kiểm soát sang kiến tạo cơ chế; chính quyền địa phương bớt tính chất thanh tra áp đặt để đồng hành sát cánh cùng nhà trường; bản thân các trường học phải tự gieo mầm văn hóa sáng tạo và tự học; giáo viên cần được cởi trói khỏi các thủ tục giấy tờ vô ích để đầu tư cho chuyên môn; đồng thời phụ huynh sẽ đóng vai trò người đồng hành mật thiết với nhà trường.
Giá trị cốt lõi của một nền giáo dục tiến bộ không nằm ở những chồng hồ sơ báo cáo, các đợt thanh kiểm tra gắt gao hay việc hoàn thành các chỉ tiêu số liệu trên giấy tờ. Nó nằm ở việc mỗi học sinh có được học tập dưới một mái trường an toàn, được đánh thức tiềm năng cá nhân và trang bị đầy đủ hành trang để tự chủ cuộc đời, đồng thời cống hiến cho sự phồn vinh của quốc gia.
Việc chuyển đổi tư duy vận hành này thực chất là bước chuyển dịch mang tầm vĩ mô: từ cai trị hệ thống sang vun đắp con người; từ nỗ lực duy trì hiện trạng sang chủ động kiến tạo tương lai.
“Khi mọi chính sách giáo dục đều lấy câu hỏi: Làm sao để người học tiến bộ hơn, hạnh phúc hơn và có tương lai rộng mở hơn? làm kim chỉ nam, đó sẽ là bệ phóng vững chắc để kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy đất nước cất cánh bằng tri thức và sức sáng tạo trong kỷ nguyên mới”, chuyên gia khẳng định.
Cảm ơn quý độc giả đã dành thời gian theo dõi bài phân tích sâu sắc này. Hy vọng bài viết đã mang đến cho bạn những góc nhìn mới mẻ về tương lai của ngành giáo dục nước nhà. Đừng quên tiếp tục khám phá thêm nhiều bài viết cùng chủ đề và các phân tích chuyên sâu khác được gợi ý ngay dưới đây nhé!
Ý kiến bạn đọc (0)