Dòng vốn đầu tư nước ngoài thiết lập đỉnh cao lịch sử, giải pháp tối ưu hóa nguồn lực từ các tập đoàn đa quốc gia?

Trong 6 tháng đầu năm, cả dòng vốn đăng ký lẫn thực hiện của khối ngoại đều ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc. Dù vậy, giới phân tích vẫn chỉ ra những lưu ý quan trọng cùng phương án giúp tối đa hóa giá trị từ các siêu dự án này.

Dòng vốn đầu tư nước ngoài thiết lập đỉnh cao lịch sử, giải pháp tối ưu hóa nguồn lực từ các tập đoàn đa quốc gia?

Dòng vốn ngoại liên tục bứt phá, giải pháp nào để tối ưu hóa nguồn lực từ các "đại bàng" quốc tế?

Kết quả thu hút FDI trong 6 tháng đầu năm tăng trưởng vượt bậc, ghi nhận những cột mốc ấn tượng. Dù vậy, giới phân tích đã chỉ ra các vấn đề cốt lõi cùng định hướng chiến lược nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn lực này.

FDI giải ngân chạm mốc kỷ lục trong vòng 5 năm, tổng vốn ngoại cán mốc 34,6 tỷ USD

Dựa trên báo cáo thống kê từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính đến thời điểm ngày 30/6, tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào nước ta, tính gộp cả dòng vốn đăng ký mới, điều chỉnh vốn cùng các thương vụ góp vốn và mua cổ phần, đã chạm mức 34,65 tỷ USD, tăng trưởng 61% so với cùng kỳ năm trước.

Trong nửa đầu năm, cả nước có 2.013 dự án FDI được cấp phép mới với tổng lượng vốn đăng ký đạt 17,39 tỷ USD, tăng 87,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu trong thu hút dòng vốn này với 10,76 tỷ USD, tương đương 61,9% tổng vốn đăng ký mới. Đứng ở vị trí kế tiếp là mảng sản xuất, phân phối điện, khí, nước và điều hòa không khí với quy mô 3,08 tỷ USD.

Xét theo các đối tác đầu tư, Singapore vẫn là quốc gia đứng đầu khi rót vào 7,31 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 42,1% tổng lượng vốn đăng ký mới. Hàn Quốc nắm giữ vị trí thứ hai với quy mô 5,45 tỷ USD, tiếp sau lần lượt là các quốc gia và vùng lãnh thổ gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Đặc khu hành chính Hong Kong (Trung Quốc) và Hà Lan.

FDI lập kỷ lục mới, làm sao để dòng vốn đại bàng ngoại hiệu quả nhất? - 1
Ảnh: Tham khảo trên dantri

Lượng vốn ngoại đăng ký đầu tư vào Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến vượt bậc (Ảnh: Samsung).

Cũng trong thời gian này, có 541 lượt dự án tiến hành điều chỉnh tăng vốn với phần giá trị bổ sung đạt 11,04 tỷ USD, cao hơn 23,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Song song đó, các giao dịch góp vốn, mua cổ phần của khối ngoại cũng tăng mạnh tới 89,5%, đạt giá trị 6,22 tỷ USD.

Tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vững vàng ở ngôi đầu với tổng vốn FDI thu hút đạt 17,91 tỷ USD, tương đương 63% tổng vốn đăng ký. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản giữ vị trí thứ hai với quy mô 5,1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 17,9%.

Một điểm sáng rất đáng lưu ý là vốn FDI thực hiện trong nửa đầu năm ước đạt khoảng 13,03 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây chính là mức giải ngân cao nhất ghi nhận trong 6 tháng đầu năm của giai đoạn 2022-2026.

Trong cơ cấu vốn thực hiện, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo nắm giữ tỷ trọng áp đảo với 10,76 tỷ USD, tương đương 82,6%. Mảng kinh doanh bất động sản đứng tiếp theo khi đạt 965,2 triệu USD, chiếm 7,4%; lĩnh vực sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí ghi nhận 479,2 triệu USD, tương đương 3,7%.

Bức tranh đầu tư với hai mảng màu đối lập

Nhận định về tình hình này, TS Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũ, nay là Bộ Tài chính), cho rằng hoạt động thu hút FDI tiếp tục là một điểm sáng cực kỳ ấn tượng của nền kinh tế trong nửa đầu năm. Việc cả vốn đăng ký mới, điều chỉnh lẫn vốn thực hiện đều ghi nhận mức tăng trưởng khả quan đã cho thấy niềm tin sâu sắc của cộng đồng đầu tư quốc tế vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Mặc dù vậy, bên cạnh những gam màu tươi sáng, số liệu 6 tháng cũng chỉ ra rằng có tới 1.033 lượt nhà đầu tư nước ngoài thực hiện mua lại cổ phần từ các doanh nghiệp nội địa mà không làm gia tăng vốn điều lệ, đạt tổng giá trị giao dịch là 4,07 tỷ USD.

Trái ngược hoàn toàn với dòng vốn rót vào các dự án xây mới hay mở rộng nhà xưởng, hình thức đầu tư này không trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất mới, không mang lại công nghệ mới hay việc làm mới. Thay vào đó, nó chỉ làm chuyển dịch cơ cấu sở hữu tài sản cùng quyền kiểm soát doanh nghiệp từ khối nội sang khối ngoại. Nếu hiện tượng này tiếp diễn và tăng mạnh trong dài hạn, quyền làm chủ một phần các doanh nghiệp trong nước sẽ rơi vào tay khối ngoại. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý phải nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý đối với hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A), đồng thời giải quyết bài toán lớn về sức cạnh tranh cũng như khả năng tích lũy, tự chủ vốn của khối doanh nghiệp nội địa.

FDI lập kỷ lục mới, làm sao để dòng vốn đại bàng ngoại hiệu quả nhất? - 2
Ảnh: Tham khảo trên dantri

TS Nguyễn Bích Lâm phân tích về thực trạng các nhà đầu tư quốc tế tiến hành mua lại cổ phần của các đơn vị trong nước (Ảnh: baochinhphu).

Theo quan điểm của ông Lâm, giá trị cốt lõi mà dòng vốn FDI cần mang lại lúc này là sức lan tỏa về công nghệ, nâng cao năng suất chung và tạo động lực kéo các doanh nghiệp nội địa cùng đi lên - nhất quán với định hướng tại Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, dù khối FDI vẫn đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng quan trọng, song mức độ kết nối với khối doanh nghiệp trong nước, tỷ lệ nội địa hóa cùng hiệu quả chuyển giao công nghệ vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.

Nếu không thể tối ưu hóa tính lan tỏa của cả đầu tư công lẫn FDI, nền kinh tế quốc gia sẽ gặp nhiều trở ngại trong việc tạo ra bước ngoặt lớn về năng suất lao động cũng như năng lực cạnh tranh dài hạn.

Chính vì thế, trọng tâm trong giai đoạn tiếp theo không đơn thuần là đẩy nhanh tiến độ giải ngân hay thu hút thêm số lượng dự án, mà phải tập trung nâng cao hiệu quả sử dụng của từng đồng vốn đầu tư nhằm bồi đắp năng lực sản xuất thực tế, thúc đẩy năng suất và vực dậy mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nội địa.

Dòng vốn FDI chuyển dịch sang trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao: Cơ hội nào cho doanh nghiệp nội?

Thay vì tập trung nhập khẩu linh kiện, thiết bị để tận dụng nhà xưởng và nguồn nhân công giá rẻ phục vụ gia công như trước, dòng vốn ngoại hiện nay đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, thiết bị y tế kỹ thuật cao, năng lượng tái tạo cùng kinh tế số.

Ông Nguyễn Bích Lâm nhận định, nhằm hướng tới mục tiêu biến Việt Nam thành nơi đặt tổng hành dinh, các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), trung tâm đổi mới sáng tạo cùng văn phòng điều hành của những tập đoàn công nghệ hàng đầu toàn cầu, Nghị quyết 10 đã vạch rõ sự thay đổi lớn từ tư duy tiếp nhận nguồn lực bên ngoài đơn thuần sang chủ động khai thác nguồn lực đó để nâng tầm vị thế đất nước, củng cố năng lực tự chủ chiến lược và xây dựng nền tảng cho một mô hình tăng trưởng bền vững dựa trên tri thức và sáng tạo.

Quan sát dưới góc độ của nhà đầu tư công nghệ quốc tế, ông Bradley Warden, Giám đốc điều hành kiêm Quản lý danh mục cấp cao cho quỹ Khoa học & Công nghệ Nomura thuộc Công ty Quản lý tài sản quốc tế Nomura, nhấn mạnh rằng AI không đơn thuần chỉ là một làn sóng công nghệ mang tính chu kỳ.

Ông phân tích, nếu như máy tính cá nhân, điện thoại thông minh hay điện toán đám mây ra đời chỉ để cung cấp thêm công cụ hỗ trợ con người, thì AI lại tạo nên một bước tiến vượt bậc về năng lực: khả năng tư duy biện giải, phân tích sâu và tự động hóa các khâu ra quyết định. Công nghệ này có sức mạnh tác động toàn diện đến nhiều tầng của nền kinh tế, từ cơ sở hạ tầng tính toán, phát triển phần mềm, cung ứng dịch vụ cho đến năng suất lao động chung.

FDI lập kỷ lục mới, làm sao để dòng vốn đại bàng ngoại hiệu quả nhất? - 3
Ảnh: Tham khảo trên dantri

Vấn đề mấu chốt là liệu các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam có đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu hay không (Ảnh: Hùng Anh).

Một câu hỏi lớn được đặt ra là liệu dòng vốn đầu tư khổng lồ đổ vào AI có mang lại hiệu quả kinh tế tương xứng. Theo đánh giá của ông Bradley Warden, thế giới hiện tại đang ở giai đoạn kiến tạo nền móng cho AI với các khoản chi tiêu rất lớn cho hệ thống trung tâm dữ liệu, chip đồ họa GPU, chất bán dẫn, bộ nhớ cùng năng lực xử lý tính toán.

Tuy nhiên, các nhu cầu thực tế đã dần xuất hiện rõ nét, đặc biệt trong lĩnh vực lập trình khi các ứng dụng AI có khả năng rút ngắn thời hạn xây dựng phần mềm từ nhiều tuần, nhiều tháng xuống chỉ còn vài ngày hoặc vài giờ. Khi hiệu quả cải thiện năng suất lao động được chứng minh trên thực tế, AI sẽ chuyển mình từ một công nghệ thử nghiệm thành công cụ vận hành không thể thiếu của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, ông Bradley Warden cũng nhận định AI đang phân bổ lại trật tự chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Các doanh nghiệp từng bị coi là kém hấp dẫn hoặc chịu ảnh hưởng nặng bởi tính chu kỳ trong mảng bán dẫn, bộ nhớ, lưu trữ dữ liệu và hạ tầng tính toán nay đang lấy lại vị thế cốt lõi do sự thay đổi trong cấu trúc trung tâm dữ liệu. Những nút thắt mới phát sinh trong chuỗi cung ứng hoàn toàn có thể mang lại lợi thế cạnh tranh vượt trội, quyền tự định giá và triển vọng tăng trưởng dài hạn cho các đơn vị này.

Do đó, thị trường tài chính sẽ có sự phân cực sâu sắc giữa các doanh nghiệp thực sự hưởng lợi trực tiếp từ AI và các đơn vị chỉ dừng lại ở mức độ kỳ vọng truyền thông.

Trao đổi về vấn đề này, ông Phạm Lưu Hưng, Kinh tế trưởng kiêm Giám đốc Trung tâm Phân tích và Tư vấn Đầu tư thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, nhận định rằng Việt Nam không nhất thiết phải tham gia cạnh tranh trực diện với các cường quốc công nghệ trong cuộc chạy đua phát triển các mô hình AI nền tảng.

Theo vị chuyên gia này, cơ hội khả thi hơn cho chúng ta nằm ở lớp ứng dụng, nơi AI có thể được tích hợp trực tiếp vào các mảng như tài chính, tiêu dùng, thương mại điện tử, kiểm soát chất lượng, logistics, xử lý dữ liệu và vận hành. Đối với lĩnh vực tài chính, việc ứng dụng AI sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc cá nhân hóa sản phẩm dịch vụ, gia tăng tỷ lệ chuyển đổi khách hàng, tối ưu hóa định giá rủi ro, tự động hóa quy trình và cải tiến chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng.

Một khía cạnh then chốt khác chính là hạ tầng AI tại Việt Nam. Ông Hưng chỉ ra rằng nhu cầu phát triển các trung tâm dữ liệu nội địa, trang bị GPU trong nước, đi kèm hệ thống nguồn điện và hạ tầng tính toán sẽ tăng vọt khi AI được triển khai sâu rộng hơn. Đối với khối tài chính vốn quản lý lượng thông tin vô cùng nhạy cảm, việc áp dụng các mô hình AI ngoại có thể gặp rào cản pháp lý nếu dữ liệu buộc phải truyền ra ngoài biên giới Việt Nam. Vì vậy, việc thiết lập và chạy AI trên hệ thống dữ liệu nội địa sẽ mở ra cơ hội kinh doanh đầy hứa hẹn cho các doanh nghiệp hạ tầng, khu công nghiệp, trung tâm dữ liệu và ngành điện lực.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, thách thức lớn nhất là AI có khả năng tự động hóa một số tác vụ mà khách hàng trước đây thường thuê ngoài. Tuy nhiên, cơ hội mở ra cũng cực kỳ rộng mở nếu các đơn vị chủ động chuyển mình thành đối tác tư vấn và triển khai ứng dụng AI cho các khách hàng. Lợi thế cạnh tranh lúc này không nằm ở việc sở hữu mô hình AI gốc, mà dựa vào năng lực thấu hiểu sâu sắc thị trường bản địa, triển khai ứng dụng vào thực tế vận hành nhằm chuyển hóa công nghệ thành hiệu quả doanh thu cụ thể.

Xin chân thành cảm ơn quý độc giả đã dành thời gian quan tâm và theo dõi bài phân tích này. Để cập nhật thêm những thông tin kinh tế mới nhất cùng các nhận định chuyên sâu từ chuyên gia, kính mời quý vị tiếp tục đón đọc các bài viết liên quan ngay phía dưới.

Ý kiến bạn đọc (0)

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nghĩ của bạn!